Bài viết

18 Nov 2017

Huy động các chuyên gia để hoàn thiện Dự thảo Luật Giáo dục Đại học

QĐND – Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa công bố Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục Đại học (gọi tắt là Dự thảo) để xin ý kiến nhân dân, nhà khoa học và giáo viên. Nhằm có cái nhìn đầy đủ hơn về Dự thảo này, Phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trao đổi GS, TSKH Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Phóng viên (PV): Đề nghị giáo sư cho biết tầm quan trọng của việc sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục Đại học (GDĐH) lần này?

GS, TSKH Vũ Minh Giang: Bắt đầu từ năm 2013, Luật GDĐH có hiệu lực đã đưa những quy định có tính pháp lý vào GDĐH. Phạm vi điều chỉnh từ đào tạo cao đẳng trở lên. Trước khi có Luật GDĐH, các trường đại học đều không hiểu mình nằm ở đâu trong hệ thống giáo dục của Việt Nam. Luật GDĐH năm 2013 đã quy định rõ ràng điều này. Đây là bước tiến lớn trong việc chính danh hóa, pháp luật hóa nhiều nội dung quan trọng của GDĐH. Ngay sau khi Luật GDĐH có hiệu lực, Trung ương ban hành Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, nhằm chuyển từ một nền giáo dục tiếp cận nội dung, chú trọng truyền thụ kiến thức sang một nền giáo dục tiếp cận năng lực, chú trọng phương pháp, kỹ năng, rèn luyện năng lực và phẩm chất con người, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực mới cho đất nước, phù hợp với xu thế thời đại.

GS, TSKH Vũ Minh Giang.

Tuy nhiên, sau 5 năm thực hiện, Luật GDĐH bộc lộ nhiều điểm hạn chế và không còn phù hợp với thực tiễn của GDĐH hiện nay. Trong đó có những vấn đề lớn như phân định giữa quản lý Nhà nước với các cơ sở GDĐH; tự chủ đại học; mối quan hệ giữa công lập và tư thục; phân tầng đại học… cần được đưa vào luật một cách cụ thể hơn.PV: Vấn đề nào trong Dự thảo nhận được sự quan tâm nhiều nhất của các cơ sở GDĐH hiện nay, thưa giáo sư?

GS, TSKH Vũ Minh Giang: Bốn nội dung lớn được sửa đổi, bổ sung trong Dự thảo lần này đều quan trọng. Vấn đề tự chủ đại học được các nhà trường quan tâm nhiều nhất. Tự chủ cần được hiểu là một thuộc tính của GDĐH. Thuộc tính này bắt nguồn từ một trong những chức năng quan trọng của các trường đại học là tham gia sáng tạo ra tri thức mới. Đây là điều phân biệt căn bản giữa GDĐH với giáo dục phổ thông. Để có thể sáng tạo tri thức mới, điều quan trọng nhất của quyền tự chủ là về học thuật, tiếp đó là tự chủ về nhân sự và tài chính.

Sinh viên Trường Đại học Thủy lợi trong giờ học tại phòng máy. 

Vai trò quản lý của Nhà nước nằm ở chỗ xây dựng chiến lược, quy hoạch, định hướng, đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản pháp quy và chất lượng đào tạo. Theo đó, các cơ sở đào tạo không phải chỉ được đào tạo những ngành đã có trong danh mục mà có thể mở những ngành mới, nhưng phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Phân tầng đại học cũng cần được xem như một quy luật tự nhiên của GDĐH, chứ không phải là một kiểu phân thứ bậc theo áp đặt chủ quan. GDĐH thực chất là hoạt động phục vụ thị trường lao động trình độ cao hoặc có tay nghề. Thị trường ấy không đồng nhất và cũng không nhất loạt đòi hỏi mọi sản phẩm đều phải thuộc loại “chất lượng cao”. Yêu cầu tất cả các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề đều có chất lượng cao là duy ý chí và không đúng quy luật. Tính tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GD&ĐT một phần được hình thành do quy luật này. Mỗi cơ sở phải tự chịu trách nhiệm về chất lượng và uy tín, thương hiệu của mình. Vai trò quản lý của Nhà nước là đưa ra những quy định về tiêu chuẩn cho các cơ sở về điều kiện được đào tạo các cấp độ khác nhau, các loại hình ngành nghề và yêu cầu giải trình đối với các cơ sở đào tạo… Luật GDĐH phải phủ được các yêu cầu cơ bản này.PV: Dự thảo đang được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi, giáo sư có ý kiến gì?

GS, TSKH Vũ Minh Giang: Dự thảo cần làm rõ thuộc tính của GDĐH. Để thực hiện được mục tiêu của GDĐH là đáp ứng nguồn nhân lực trình độ cao đồng nghĩa với việc không thể đồng đều. Yêu cầu chất lượng phải căn cứ trên nhu cầu khác nhau của thị trường lao động. Vì thế, cần xác định được sự phân tầng, phân lớp trong GDĐH là cần thiết và quan trọng. Chúng ta cần chấp nhận sự khác biệt giữa các trường. Các trường có năng lực tốt thì có thể đào tạo ở mức độ cao. Các trường ở mức độ thấp hơn cũng cần cân nhắc năng lực đào tạo của mình trên cơ sở nhu cầu của thị trường lao động để có công tác đào tạo phù hợp.

Dự thảo cũng cần hướng tới việc đào tạo gắn với thực tiễn cao hơn, phù hợp hơn với xu thế thế giới. Chẳng hạn như hình thức đào tạo theo phương thức tín chỉ là phù hợp với GDĐH. Tuy nhiên, Dự thảo cần xem lại việc quy định đồng thời số tín chỉ cần tích lũy với quy định về số năm cho mỗi trình độ dường như vẫn còn đậm tư duy niên chế.

Một số điểm khác về mặt diễn đạt và kỹ thuật mà Dự thảo cần chú ý. Ở nhiều chỗ còn có mâu thuẫn. Chẳng hạn tại Khoản 3, Điều 18 Hội đồng trường quy định số lượng thành viên phải là số lẻ, nhưng ở Điểm b, Khoản 5 của chính điều này lại ghi trong trường hợp số phiếu ngang nhau thì phiếu của chủ tịch là quyết định. Số lượng hội đồng là số lẻ chính là để loại trừ trường hợp này.

Bên cạnh đó, nên cân nhắc việc sử dụng cụm từ Bộ trưởng Bộ GD&ĐT mà trong một số trường hợp nên để là Bộ GD&ĐT thì sẽ hợp lý hơn.

PV: Theo giáo sư, để Dự thảo nhận được những ý kiến thiết thực, Bộ GD&ĐT nên bắt đầu từ đâu?

GS, TSKH Vũ Minh Giang:  Bên cạnh công tác tuyên truyền và kêu gọi sự đóng góp ý kiến rộng rãi của nhân dân thì Bộ GD&ĐT cần tổ chức các hội nghị lớn, quy tụ các giáo sư, nhà quản lý giáo dục để việc đóng góp ý kiến cho Dự thảo một cách thiết thực, hiệu quả hơn. Bộ GD&ĐT cũng cần chỉ đạo các trường đại học phải tổ chức nghiên cứu Dự thảo luật, có các chuyên đề nghiên cứu và đóng góp một cách nhiêm túc.

PV: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Theo: Duy Văn – Báo Quân Đội Nhân Dân

Leave a Reply

image
Dự án Edtech - Đại học Thành Tây
Tố Hữu, Hà Đông, Hà Nội
Email: edtech@wu.edu.vn


Đăng ký nhận thông tin